Đan Minh

con người sống như thể mai sẽ chết, chết như thể chưa từng sống

Mác: tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH (câu 2)

Posted by Đan Minh on Tháng Tư 21, 2012


Câu 2: nêu tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Xã hội tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì mâu thuẫn cơ bản nhất của_mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, càng trở nên gay gắt. Đến một mức độ nào đó, mâu thuẫn này sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng vô sản lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng một xã hội khác văn minh công bằng phát triển hơn dựa trên chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau cuộc cách mạng, thời kỳ đi từ hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội được gọi là thời kỳ quá độ.

 

Cuộc cách mạng vô sản là một điều tất yếu trong lịch sử. Trong xã hội cũ, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra một nghịch lý là của cải xã hội ngày càng tập trung vào tay một số ít người trong khi những người chủ yếu sản xuất ra của cải lại ngày càng bị bần cùng hóa. Người công nhân tạo ra giá trị thặng dư nhưng giá trị thặng dư lại thuộc về nhà tư bản, làm giàu cho nhà tư bản. Hơn thế nữa để theo đuổi giá trị thặng dư tối đa nhà tư bản không ngừng bóc lột áp bức người công nhân. Nền sản xuất càng phát triển thì trình độ bóc lột và quy mô bóc lột càng lớn, đời sống người công nhân càng cực khổ còn nhà tư bản càng trở nên giàu có trên lưng người công nhân, mâu thuẫn xã hội càng trở nên gay gắt. Khi chủ nghĩa tư bản không thể dung hòa mâu thuấn này được nữa, nó thúc đẩy một cuộc cách mạng giải phóng giai cấp giải phóng dân tộc.

 

Vì mâu thuấn giai cấp tư sản và vô sản_mâu thuẫn cơ bản không thể tự triệt tiêu trong xã hội tư bản chủ nghĩa_ là nguyên nhân nổ ra cuộc cách mạng nên sau khi giai cấp công nhân dành dược chính quyền cần phải từ bỏ con đường phát triển của tư bản chủ nghĩa, cần đưa xã hội lên một hình thái kinh tế mới mà ở đó mâu thuẫn cơ bản của xã hội cũ được triệt để giải quyết. Tiến lên chủ nghĩa xã hội là điều tất yếu.

 

Thời kỳ quá độ cũng là một thời kỳ tất yếu trong lịch sử. Tính tất yếu đó được quy định bởi những nguyên nhân sau:
        Thứ nhất, bản chất khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, một cái dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, một cái dựa trên cơ sở tư hữu về tư liệu sản xuất. Trong xã hội chủ nghĩa cộng sản không tồn tại giai cấp và bóc lột còn tư bản chủ nghĩa phân chia xã hội thành hai giai cấp có sự khác biệt sâu sắc: giai cấp vô sản và giai cấp tư sản và luôn tồn tại sự áp bức bóc lột đối với giai cấp vô sản. sau cuộc cách mạng vô sản giai cấp công nhân đã dành được chính quyền nhưng ngay thời điểm đó trong xã hội vẫn còn tồn tại tư hữu và giai cấp. Mà tư hữu và giai cấp là hai yếu tố hoàn toàn trái ngược với nền tảng của chủ nghĩa xã hội (công hữu và phi giai cấp). Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một xã hội có khác biệt về bản chất quá lớn như vậy cần có thời gian.

Thứ hai, nền sản xuất của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất đại công nghiệp trình độ cao. Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đóng góp cho nhân loại những tiến bộ vượt bậc về năng suất, kỹ thuật và sản lượng. Nó tạo nên một tiền đề về vật chất kỹ thuật có thể sử dụng để xs chủ nghĩa xã hội. Ví dụ như sự phát triển khoa học kỹ thuật, các nhà máy nhà xưởng hiện đại, đội ngũ công nhân tay nghề cao. Tuy nhiên ban đầu những yếu tố này chưa hẳn đã có thể phục vụ cho chủ nghĩa xã hội. Như nhà máy nhà xưởng còn thuộc sở hữu cá nhân hay của một tập đoàn người, phong cách quản ý con người trong sản xuất còn mang nặng tính tư bản,… để có thể tận dụng được các yếu tố đã nêu trên cần có thời gian.

Đói với các nước có nền kinh tế càng chưa phát triển, tức là cách càng xa cái nền sản xuất đại công nghiệp trình độ cao, thì thời gian quá độ càng dài. Các nước nông nghiệt cần thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng cho mình một tiền đề về kinh tế kỹ thuật cơ sở vật chất để tiến vào chủ nghĩa xã hội, hình thái kinh tế xã hội mà của cải tạo ra dư thừa.

Thứ ba, mặc dù mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản chính là nguồn gốc của xã hội mới, mặc dù giai cấp công nhân đã dành được chính quyền về tay mình sau các cuộc cách mạng nhưng trong xã hội vẫn chưa hình thành các quan hệ của chủ nghĩa xã hội. Trong lòng chủ nghĩa tư bản không thể nảy sinh ra những quan hệ của chủ nghĩa xã hội, sự phát triển trình độ dù cao đến đâu của chủ nghĩa tư bản cũng chỉ tạo được cái tiền đề, cái điều kiện mà thôi. Muốn có được điều đó cần phải có thời gian, cần một quá tình lịch sử.

Nguyên nhân cuối cùng, tuy là hình thái kinh tế xã hội xuất hiện ngay sau chủ nghĩa tư bản nhưng chủ nghĩa xã hội mang những đặc trưng, nền tảng bản chất hoàn toàn khác thậm chí trái ngược chủ nghĩa tư bản. Một xã hội phát triển hơn bao giờ cũng bao hàm tính phức tạp hơn, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước nay chưa có tiền lệ, công cuộc xây dựng đầy sự mới mẻ, khó khăn, giai cấp công nhân cũng cần thời gian để phát triển và thích ứng theo từng bước.

Thời kỳ quá độ ở các nước khác nhau kéo dài khác nhau. Các nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình dộ càng cao thì thời kỳ này diễn ra càng ngắn, ngược lại, các nước mà chủ nghĩa tư bản còn chưa phát triển hay còn có nên kinh tế lạc hậu thì thời kỳ quá độ kéo dài và khó khăn hơn.

 

Thời kỳ quá độ có nội dung bao hàm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa-tư tưởng, xã hội.

Trong lĩnh vực kinh tế: đối tượng hướng tới của thời kỳ quá độ là llịch sửx, qhsản xuất và xây dựng nền sản xuất đại công nghiệp trình độ cao.

 Về lực lượng sản xuất: cần có sự sắp xếp bố trí lại, phù hợp với điều kiện sản xuất mới và hình thái kinh tế xã hội mới.

Về quan hệ sản xuất: quan hệ sản xuất cần được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới, tức là cần phá bỏ quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Quá trình thay đổi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quá trình nòng cốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, của thời kỳ quá độ. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất càng phát triển phù hợp với chủ nghĩa xã hội bao nhiêu thì con đường tiến tới chủ nghĩa cộng sản càng gần bấy nhiêu. Tuy nhiên không thể vì thế nóng vội chủ quan duy ý chí. Sự phát triển này phải tuân theo các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp lực lượng sản xuất.

Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ thế kỷ trước. Do không nhìn nhận đúng đắn về tính tất yếu của các quy luật kinh tế nên chúng ta đã phạm một số sai lầm. Sự phát triển lực lượng sản xuất lúc bấy giờ chưa đạt đến cái nghưỡng mà quan hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội có thể tương thích được. Do đó hàng loạt các chính sách chủ trương nhưng quốc hữu hóa hoàn toàn, đưa toàn bộ nguồi nông dân vào hợp tác xã, bao cấp và tem phiếu,… đã khiến nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng, sản lượng tụt giảm mạnh, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khắn. Đay là một bài học kinh nghiệm quý báu khi bước vào thời kỳ quá độ.

Về nền sản xuất đại công nghiệp trình độ cao: xã hội tư bản đã tạo ra những tiền đề cho sự phát triển nền kinh tế. Khi bước sang chủ nghĩa xã hội chúng ta cần tận dụng chúng trong công cuộc hình thành nền sản xuất đại công nghiệp trình độ cao. phát Đối với những nước chưa tiến hành công nghiệp hóa cần tiến hành công nghiệp hóa, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ.

Sau thế chiến thứ 2, hàng loạt các nước xã hộicông nhân ra đời. Tại thời điểm đó hàu hết các nước đều lựa chọn noi theo con đường phát triển kinh tế mà Liên xô áp dụng vào thực tiễn nước mình_ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Đây là mục tiêu phù hợp với nội dung về kinh tế của thời kỳ quá độ. Việt Nam cũng chọn lựa như thế. Tuy nhiền trước khi vào thời kỳ quá độ Liên xô đã là một nước tư bản với nền công nghiệp phát triển, có tiềm lực kinh tế phù hợp phát triển công nghiệp nặng. Việt Nam thời kỳ đó còn là nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, cả công nghiệp và ngoại thương đều hạn chế, mục tiêu phát triển công nghiệp nặng trở nên không thực tế và không thể thực hiện.

Trên lĩnh vực chính trị: một khi chủ nghĩa xã hội chưa xác lập trên phạm vi toàn thế giới thì nó còn phải tồn tại song song với chủ nghĩa tư bản, luôn chịu sự chống đối phá hoại của chủ nghĩa tư bản. Bởi vậy, cần phải tiến hành các cuộc đấu tranh chống lại các thế lực chống phá thù địch, tiến hành xây dựng và bảo vê nhà nước xã hộicông nhân ngày càng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong các hoạt động kinh tế, chính trị của người dân, xây dựng các tổ chức chính trị xã hội thực sự phát huy quyền làm chủ ấy, xây dựng đảng trong sạch vững mạnh. Nếu như trước kia các thế lực thù địch lựa chọn phương thức phá hoại chủ yếu là chiến tranh và bạo lực thì trong thời đại ngày nay thủ đoạn của chúng đã trở nên tinh vi và kín đáo nhưng cũng nham hiểm hơn. Các chiến dịch “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lất đổ” không còn là điều xa lạ nữa. Các cuộc ‘cách mạng cam’, ‘cách mạng nhung’ là minh chứng rõ nét nhất cho việt thực hiện và thực hiện thành công “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ. Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi của các chiến dịch ‘diễn biến hòa bình’  và ‘bạo loạn lật đổ’, hơn thế nữa chúng ta còn là trọng điểm của thủ đoạn chống phá kiểu mới này. Các thế lực từ bên ngoài đã kích động đồng bào dân tộc tiến hành cuộc bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2004, ngay sau đó hàng loạt báo chí nước ngoài (thậm chí cả đài BBC, dù sau đó đài này có đính chính và rút lại bản tin đã phát) với giọng điệu ‘chính quyền Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo’ ‘chính quyền Việt Nam đàn áp người biểu tình một cách dã man’ với các số liệu và sự kiện khống không có thực. Do sự nâng cao phương pháp thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nội dung về chính trị trong thời kỳ quá độ càng cần phải chủ trọng và thực hiện kiên quyêt, khéo léo hơn, trong đó phát huy quyền làm chủ của nhân dân và giữ vững Đảng trong sạch vững mạnh là yêu cầu then chốt.

Trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng: tuyên truyền phổ biến tư tưởng của giai cấp công nhân cho toàn xã hội, khắc phục những tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa trên thế giới. Lĩnh vực văn hóa tư tưởng đạt ra cho chúng ta rât nhiều vấn đề phải giải quyết, như tiếp thu văn hóa nhân loại những cái gfi và ở mức độ nào, làm sao để hòa nhập không phải là hòa tan, các luồng tư tưởng mới tren khắp thế giới sẽ ảnh hưởng như thế nào đến suy nghĩ của người dân mà nhất là bộ phận giới trẻ, liệu chúng có tác động làm lung lay tinh thần giai cấp và niềm tinh vào chủ nghĩa Mark Lenin hay không,…

Trên lĩnh vực xã hội: khắc phục tệ nạn do xã hội cũ để lại, từng bước khắc phục sự chênh lệch  giữa các vùng miền các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm tạo sự bình đẳng xã hội, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người theo mục tiêu lý tưởng tự do của người này là điều kiện tiền đề cho tự do của người khác.

 

Tóm lại, chúng ta không thể phủ nhận tính tất yếu phải có của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể tồn tại nếu như các nội dung của thời kỳ quá độ được thực hiện.

2 phản hồi to “Mác: tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH (câu 2)”

  1. phòng sạch là gì

    Mác: tính tất yếu và nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH (câu 2) « Đan Minh

  2. It’s appropriate time to make some plans for the future and it’s
    time to be happy. I’ve read this post and if I could I desire to suggest you few interesting things or tips.
    Maybe you can write next articles referring to this article.
    I want to read more things about it!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: