Đan Minh

con người sống như thể mai sẽ chết, chết như thể chưa từng sống

Về vấn đề lao động dôi dư (môn KTVN phần chính sách lao động và việc làm)

Posted by Đan Minh on Tháng Tư 21, 2012


VB liên quan

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 110/2007/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 06 NĂM 2007

VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG DÔI DƯ

DO SẮP XẾP LẠI CÔNG TY NHÀ NƯỚC

THÔNG TƯ

Số 11/2003/TT-BLĐTBXH­­

Thông tư số 11/2002/TT-BLĐTBXH

Ngày 12/6/2002

Nghị định

41/2002/NĐ-CP.

Chỉ thị của thủ tướng chính phủ số 20/1998/CT-TTG ngày 21 tháng 4 năm 1998 về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp

 

Giải quyết lao động dôi dư trong các doanh nghiệp Nhà nước

1.Phân loại:

+ lao động dôi dư: lao động trong đơn vị nhà nước mà Nhà nước     không bố trí được việc làm.

+ lao động dôi dư tiềm tàng: lao động có việc làm nhưng không thật sự cần     thiết và việc giảm biên chế loại lao động này không ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

=> cả lao động dôi dư lẫn dôi dư tiềm tàng đều là đối tượng cần Nhà nước   giải quyết vấn đề việc làm.

2.Thực trạng:

1998: Dôi dư hoàn toàn 9% lao động Nhà nước.

doanh nghiệp vừa và nhỏ (có vốn dưới 3 tỷ): 15%

doanh nghiệp có vốn trên 5 tỷ: 6%

Dôi dư tiềm tàng: khoảng 9%

=> cần giải quyết việc làm cho gần 1/5 (18,5%) số lao động trong

các doanh nghiệp Nhà nước.

2005: Số lao động dôi dư được xác điịnh là 63000 do Nghị định

41/2002/NĐ-CP.

3.Nguyên nhân:

Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng cũng như năng suất lao động. Do đó có sự sắp xếp lại trong các doanh nghiệp Nhà nước (tinh giảm bộ máy như giảm một số bộ phận và số lao động ở bộ phận; thay đổi cơ chế quản lý như sát nhập, giải thể, cổ phần hóa,…) dẫn đến dôi dư lao động.

4.Chính sách của Nhà nước:

Nhà nước luôn đưa ra những chính sách giải quyết cho các lao động dôi dư theo phương châm:

–         chuyển dịch lao động khu vực Nhà nước sang khu vực ngoài quốc doanh

–         khuyến khích lao động dôi dư tự thôi việc

–         có chính sách hỗ trợ cho lo động dôi dư hoặc mất việc do doanh nghiệp giải thể phá sản hay kinh doanh không hiệu quả.

Các chính sách cụ thể:

Chỉ thị của thủ tướng chính phủ số 20/1998/CT-TTG ngày 21 tháng 4 năm 1998 về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp đã tăng lượng lao động dôi dư trong các doanh nghiệp Nhà nước cũng như tăng tính cấp thiết của việc giải quyết việc làm và thực hiện chính sách hỗ trợ sau công tác cho lao động dôi dư.

Trong chỉ thị đã nêu rõ:

“Chú ý vận động thuyết phục người lao động trong doanh nghiệp hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích của chủ trương này.” (chủ trương cổ phần hóa)

“Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sớm trình Chính phủ Nghị định về giải quyết lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.”

Tuân theo chỉ thị trên, ngày 11/4/2002, chính phủ đã ra nghị định theo đề nghị của bộ trưởng bộ lao động thương binh và xã hội.

Nghị định 41/2002/NĐ-CP:

Nghị định quy định rõ phạm vi các doanh nghiệp phải sắp xếp lại, chính sách cho từng đối tượng lao động dôi dư khi sắp xếp lại, nguồn ngân sách thực hiện, các tổ chức thực hiện.

Điều 3.Người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn:

1.Đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên:

a)Được nghỉ hưu, nhưng không trừ phần trăm lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi.

b)Được hưởng thêm hai khoản trợ cấp sau:

Trợ cấp 03 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương đang hưởng cho mỗi năm(12 tháng) nghỉ hưu trước tuổi;

Trợ cấp 05 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương đang hưởng cho 20 năm đầu công tác có đóng bảo hiểm xã hội. Từ năm thứ 21 trở đi, cứ mỗi năm công táccó đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp thêm 1/2 tháng tiền lương cấp bậc, chứcvụ, phụ cấp lương đang hưởng.

2.Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động nhưng còn thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối đa 01 năm, thì được Nhà nước đóng một lần số tiền bảohiểm xã hội cho những tháng còn thiếu với mức 15% tiền lương tháng để giảiquyết chế độ hưu trí hàng tháng.

3.Các đối tượng còn lại thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng các chế độ như sau :

a)Trợ cấp mất việc làm được tính theo số năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước,cứ mỗi năm được trợ cấp 01 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lươngđang hưởng nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng tiền lương, phụ cấp lương đang hưởng;

b)Được hỗ trợ thêm hai khoản sau:

Trợ cấp 01 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương đang hưởng cho mỗi nămthực tế làm việc trong khu vực nhà nước;

Trợ cấp một lần với mức 5 triệu đồng.

c)Được hưởng 06 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương đang hưởng để đitìm việc làm.

Trườnghợp người lao động có nguyện vọng học nghề thì ngoài khoản tiền được hưởng đitìm việc làm nói trên còn được đào tạo tối đa 06 tháng tại các cơ sở dạy nghềdo Nhà nước quy định. Nhà nước cấp kinh phí cho các cơ sở dạy nghề này để đàotạo lao động dôi dư.

d)Người lao động còn thiếu tối đa 05 năm tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luậtLao động và có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà chưa nhận trợ cấp bảohiểm xã hội một lần, ngoài việc được hưởng các chế độ quy định tại các điểm avà b khoản này còn được tự đóng tiếp bảo hiểm xã hội với mức 15% tiền lương tháng trước khi nghỉ việc cho cơ quan bảo hiểm xã hội tại nơi cư trú cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Trường hợp chưa đủđiều kiện để đóng tiếp bảo hiểm xã hội nói trên thì được bảo lưu thời gian đóngbảo hiểm xã hội và cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc hưởng trợ cấp một lần theo quyđịnh hiện hành.

Điều 4. Người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động có thời hạn từ 01 đến 03 năm thì chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng các chế độ sau:

1.Trợ cấp mất việc làm được tính theo số năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước,cứ mỗi năm được trợ cấp 01 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lươngđang hưởng.

2.Trợ cấp 70% tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương đang hưởng cho nhữngtháng còn lại chưa thực hiện hết hợp đồng lao động đã giao kết, nhưng tối đa cũng không quá 12 tháng.

3.Người lao động còn thiếu tối đa 05 năm tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động và có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà chưa nhận trợ cấp bảohiểm xã hội một lần, ngoài việc được hưởng các chế độ quy định tại các khoản 1và 2 Điều này còn được tự đóng tiếp bảo hiểm xã hội với mức 15% tiền lương tháng trước khi nghỉ việc cho cơ quan bảo hiểm xã hội tại nơi cư trú cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Trường hợp chưa đủ điều kiện để đóng tiếp bảo hiểm xã hội nói trên thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc hưởng trợ cấp một lần theo quy định hiện hành.

Điều 5. Người lao động đã nhận trợ cấp quy định tại Điều 3 Nghị định này nếu được tái tuyển dụng làm việc ở doanh nghiệp đã cho thôi việc, hoặc ở doanh nghiệp nhà nước khác thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định này. Doanh nghiệp tuyển dụng lao động có trách nhiệm thu hồisố tiền nêu trên từ người lao động và nộp toàn bộ vào Quỹ hỗ trợ lao động dôi dưdo sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước thành lập theo Điều 7 Nghị định này.

Điều 6. Ngoài các chính sách quy định tại Điều 3 và Điều 4 Nghị định này, người lao động dôi dư được tạo điều kiện vay vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm để tự tạo việc làm và được giới thiệu tìm việc làm mới theo quy định của pháp luật.

Qua nội dung chương II của nghị định có thể thấy các chính sách trên mang tính hỗ trợ cao cho người lao động để không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ cũng như ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội.

Ngoài ra còn có các thông tư 11/2002/TT-BLĐTBVXH và 11/2003/TT-BLĐTBVXH bổ sung hỗ trợ cho nghị định trên.

Theo thông tin từ Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư, trong năm 2005, số lao động dôi dư từ hoạt động sắp xếp, đổi mới DOANH NGHIệPNHÀ NƯớC khoảng bằng toàn bộ các năm trước cộng lại, có nghĩa là khoảng trên 63.000 người. Lý do của tình trạng trên là 1500 doanh nghiệp sẽ được sắp xếp, đổi mới trong năm nay (kể cả số doanh nghiệp chưa hoàn thành từ năm 2004), trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn. Đặc biệt, việc thí điểm cổ phần hoá các tổng công ty Nhà nước làm tăng số lượng lao động dôi dư.

Nghị định 110/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của chính phủ tiếp tục hoàn thiện các chính sách cho lao động dôi dư trên cơ sở nghị định 41/2002/NĐ-CP.

Nghị định 91/2010/NĐ-CP:

có hiệu lực thi hành từ ngày 10-10-2010, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu áp dụng, giải quyết quyền lợi cho số lao động dôi dư.

 

5.Khó khăn:

Sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước là một việc làm thiết yếu cho sự phát triển của thành phần kinh tế Nhà nước nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế cả nước nói chung. Tuy nhiên cho dù Nhà nước có những chính sách hỗ trợ hết sức ưu đãi cho người lao động thì họ cũng không dễ dàng gì tìm được việc làm sau một thời gian vì hầu hết lực lượng này tay nghề yếu, trình độ năng lực hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và người lao động vẫn chịu ảnh hưởng của mô hình cũ, tư duy và tác phong cũ.

Bên cạnh đó còn có bộ phận người lao động không muốn rời khỏi vị trí công tác khiến cho việc đàm phán về làm lại hợp đồng lao động, hỗ trợ lao động gặp khó khăn.

 

6.Một số biện pháp:

-Chính sách đối với người lao động phải phù hợp với thực tế, quyền lợi cần được bảo đảm, nhất là đối tượng lao động không bố trí được việc làm

-Cần có chính sách kích cầu lao động như hỗ trợ vốn ban đầu cho những người kinh doanh nhỏ, cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển các chương trình tạo công ăn việc làm cho người lao động, xuất khẩu lao động, qua đó giảm sức ép về dư thừa lao động, chuyển dịch lao động dư thừa ở doanh nghiệp sau cổ phần hoá sang khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt chính sách giảm cung về lao động, bao gồm các chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chính sách di dân sang khu vực ít bị sức ép dư thừa lao động.

-Các doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi cập nhật các văn bản pháp lý hỗ trợ giải quyết lao động dôi dư để thực hiện đúng quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi tối đa cho người lao động, học hỏi kinh nghiệm để xử lý các tình huống nhanh gọn không lúng túng, sai sót, doanh nghiệp cần chủ động tháo gỡ khó khăn vướng mắc dặc thù của mình.

– Tuyển dụng lao động có chất lượng và đúng theo nhu cầu lao động của doanh nghiệp.

-Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong việc giải quyết lao động dôi dư, vì tổ chức công đoàn thực hiện những công việc như: tổ chức tuyên truyền cho người lao động về chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa, về các chế độ chính sách đối với công ty để người lao động hiểu rõ mục đích, yêu cầu, quyền lợi, trách nhiệm của người lao động nhằm tạo ra sự nhất trí cao trong công ty để thực hiện đạt kết quả tốt.

 

7.Đánh giá nhận xét:

Tính đến hết năm 2004, Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư đã thực hiện hỗ trợ cho 63.256 lao động dôi dư của 1361 doanh nghiệp với tổng giá trị là 1861 tỷ đồng. Năm 2005 lại có thêm 63000 lao động cần được hỗ trợ đến từ 1500 doanh nghiệp. Thời điểm hiện tại, dưới tác động tích cực của các chính sách Nhà nước và sự thay đổi nhận thức về việc làm của người lao động dẫn đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế (tăng tỷ trọng lao động ngoài Nhà nước, giảm tỷ trọng lao động Nhà nước), lượng lao động dôi dư trong doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta đã giảm đáng kể. Tuy nhiên đây vẫn là vấn đề còn tồn tại và cần sự quan tâm của Nhà nước, tránh những hệ lụy xã hội khi tinh giảm biên chế.

Bên cạnh việc lao động dôi dư được giải quyết thì lại có những lao động dôi dư khác (hiện nay, thường là dôi dư tiềm tàng) được tạo ra do chính sách tuyển dụng không thực tế và việc kinh doanh chưa hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, kể cả một bộ phận các doanh nghiệp cổ phần.

3 phản hồi to “Về vấn đề lao động dôi dư (môn KTVN phần chính sách lao động và việc làm)”

  1. Tử Hoa said

    Chuyện nhân viên nhà nước này cứ lâu lâu lại thấy xuất hiện, thật là nản =A=
    Bắt đầu từ năm 1998 đến hết 2004 là 63000 lao động rồi, tưởng hết rồi mà sang 2005 đùng cái lại thêm 63000 lao động nữa? Ta chẳng hiểu sao 1 thời gian ngắn lại tăng đột biến đến thế =A=

    Nhắc đến chuyện này lại nhớ, nàng biết chuyện tập đoàn Sông Đà không? Tập đoàn này vốn nhà nước là chủ yếu. Gần đây phát hiện bội chi 20.000 tỷ đồng, điều tra mới biết bọn ấy rút dần vốn nhà nước bằng cách thuê 1 lượng lớn cán bộ công nhân viên ăn không ngồi rồi hưởng lương, sau đó sa thải theo kiểu “thanh trừng lao động dôi dư” như trên và ngốn rất nhiều tiền trợ cấp

    Đúng là có duyên thật, mới hôm nọ ta nghe chuyện này từ thầy thì hôm nay có bài này của nàng =)))

    • Đan Minh said

      là tại 2005 nước ta đảy mạnh cổ phần hóa và sắp xếp lại doanh nghiệp. Cộng thêm Nghị định 41/2002/NĐ-CP có quá nhìu ưu đãi cho lao động nhà nước nghỉ việc nên một số ko nhỏ LĐ nhà nước đã xin nghỉ, nhận trợ cấp và đi tìm kiếm cơ hội ở mảng ngoài nhà nước. Số này cũng được tính thành dôi dư.
      bố ta cũng xin nghỉ theo nghị định 41/2002/NĐ-CP vào năm đó đó🙂 (gọi tắt là nghỉ 41)

      • Tử Hoa said

        Ra là thế, chắc có lẽ để chuẩn bị cho 2007 gia nhập wto chăng. Nước ta thực sự là rất ì ạch trong vụ này, tới giờ vẫn chưa hoàn thành hết yêu cầu của wto nữa =)) Mà cổ phần hóa cũng là hình thức thôi =)) Ta ko tưởng tượng được trong khoảng thời gian ấy tiêu cực tới cỡ nào để ráng ở lại trong doanh nghiệp nhà nước.

        P.s: Ko hiểu sao hủ nữ cta lại ít đăng những bài thế này nhỉ, dù có nhiều nàng học ngành kinh tế lắm. Ta thix đọc mà ^^

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: